Mobility Services (Bài 1): Một số loại hình di chuyển trong đô thị nổi bật tại Châu Âu

Mobility Services (Bài 1): Một số loại hình di chuyển trong đô thị nổi bật tại Châu Âu

Mobility Services là gì?

Mobility Services là một khái niệm phổ biến chỉ các loại hình dịch vụ di chuyển hành khách. Hiểu nôm na, bạn trả tiền để được di chuyển từ A đến B bằng một loại phương tiện nào đó, thì đó là mobility services. Phân khúc của dịch vụ này khá đa dạng, được phân chia từ cách thức di chuyển (trên mặt đất hay trên không trung) đến độ dài quãng đường hay hình thức hợp đồng di chuyển. Ta có thể nêu một số loại hình như: máy bay, taxi, xe công nghệ, car-sharing, bike-sharing, v.v

Trong loạt bài về mobility services, mình sẽ chỉ đề cập những loại hình dành cho di chuyển trong đô thị (urban mobility) vì mình thấy chủ đề khá gần gũi với cuộc sống hằng ngày. Bên cạnh đó, mình sẽ phân tích một số khía cạnh của mobility services tại Đức vì thị trường tại đây rất phát triển, đặc trưng và là bench-marking của nhiều thị trường khác tại châu Âu.

Hiện nay, có 03 phương thức chính để người dân đi lại mỗi ngày trong các đô thị, đó là phương tiện công cộng (public transportation), phương tiện cá nhân (vehicle ownership) và mobility services. Đối với dịch vụ di chuyển, taxi & ride-hailing, car-sharingmicro-mobility là các loại hình được sử dụng nhiều nhất.

Theo dõi Otobahn trên Instagram tại: @otobahn

1. Taxi & ride-hailing

Taxi & ride-hailing xuất hiện lâu đời nhất và có giá trị thương mại lớn nhất trong các phân khúc được đề cập. Đúng theo tên gọi, loại hình này được chia thành hai mảng chính, dựa vào cách thức tính giá của chuyến đi, đó là taxiride-hailing. Khi đi taxi, bạn chỉ biết được số tiền phải trả khi đã hoàn thành chuyến đi đó. Trong khi đó, người dùng sẽ biết được chính xác giá thành trước khi chiếc xe được lăn bánh khi sử dụng dịch vụ ride-hailing.

Ngày nay, với sự phát triển của công nghệ, cụ thể là các ứng dụng trên điện thoại thông minh, loại hình taxi cũng bắt đầu hoạt động đồng thời với ride-hailing. Dịch vụ hãng taxi sẽ vừa rước khách dọc đường vừa nhận chuyến thông qua các ứng dụng. Ứng dụng ở đây, có thể là ứng dụng của chính hãng Taxi hoặc tài xế có thể liên kết với một hãng chỉ cung cấp dịch vụ ride-hailing khác.

Thị trường taxi & ride-hailing tại châu Âu đạt giá trị hơn 51 tỷ đô vào năm 2019 và được dự báo tăng trưởng 1.5%/năm cho đến 2025. So với những thị trường khác, châu Âu đã không còn nhiều dư địa để tăng trưởng. Thay vào đó, thị trường sẽ trải qua sự chuyển đổi trong phương thức sử dụng nhờ vào việc số hóa (digitalisation) trải nghiệm người dùng.

2. Car-sharing

Mình đã viết một bài về dịch vụ car-sharing ở Praha và trong đó cũng đã nêu một số khái niệm cơ bản. Mình xin được dẫn lại như sau:

„Car-sharing (tạm dịch: ô tô chia sẻ) là một loại hình dịch vụ di chuyển sử dụng ô tô chung tại ở một khu vực đô thị nhất định. (…). Car-sharing là một dịch vụ cho phép người dùng thuê một chiếc xe thông qua ứng dụng với tài khoản đã được đăng ký trước đó (…). Khi thuê xe, bạn chỉ cần sử dụng ứng dụng để thuê bất kỳ chiếc nào đang đậu sẵn ngoài đường mà không cần đến văn phòng để ký tá giấy tờ.“

Đọc thêm: "CAR-SHARING Ở CHÂU ÂU – PRAHA, CỘNG HÒA SÉC"

Nhiều thành phố ở châu Âu đang trải qua sự bùng nổ về việc cung cấp car-sharing nhờ vào tính ứng dụng và sự đáp ứng nhu cầu của dịch vụ này. Có nhiều mô hình kinh doanh (business model) được áp dụng như free-floating car-sharing, station-based car-sharing hoặc hỗn hợp. Mình sẽ có một bài viết chi tiết về chủ đề này sắp tới.

Châu Âu là thị trường phát triển car-sharing mạnh mẽ nhất toàn cầu. Năm 2019, giá trị thị trường đạt hơn 4 tỷ USD (Mỹ đạt gần 2 tỷ USD và Trung Quốc đạt hơn 1.1 tỷ USD). Dự báo đến năm 2025, thị trường car-sharing tại lục địa già đạt hơn 5.5 tỷ USD, tức CAGR đạt khoảng 5.4%.

3. Micro-mobility

Micro-mobility, đứng dưới góc độ dịch vụ, là các loại hình chia sẻ những phương tiện kích thước nhỏ như e-scooter, xe đạp , v.v. Đặc thù của loại hình này là quãng đường di chuyển rất ngắn, không yêu cầu trình độ người dùng (như car-sharing) và chi phí trả cho mỗi lần sử dụng cũng không quá cao. Sẽ có một số tài liệu xếp car-sharing vào nhóm micro-mobility, nhưng với loạt bài này, mình muốn nói đến car-sharing ở riêng để đề cập được nhiều thông tin hơn.

Điểm mạnh của micro-mobility là sự linh hoạt, nhanh nhạy trong các con phố nhỏ tại trung tâm thành phố. Phần lớn các đô thị châu Âu hiện nay vẫn còn dấu ấn quy hoạch từ nhiều thế kỷ trước, đặc biệt là trong các quận trung tâm. Do đó, các con đường trong „quận 1“ thường nhỏ và hẹp. Hơn nữa, sử dụng các phương tiện như xe đạp sẽ giúp người dân tránh được những con đường đông đúc và tình trạng kẹt xe.

Bike-sharing là phương tiện phổ biển, tiêu biểu của phân khúc micro-mobility hiện nay. Mặc dù giá trị thị trường không lớn (429 triệu USD năm 2019), loại hình này được dự báo tăng trưởng cao nhất trong các loại hình đã được nêu, với 8.1% CAGR đến năm 2025.

Theo dõi Otobahn trên Instagram tại: @otobahn

Trong bài tiếp theo, mình sẽ chia sẻ một số thông tin về thị trường Taxi & Ride-hailing tại Đức. Mình sẽ tập trung nói đến market size, phân khúc (segments), đối thủ cạnh tranh (competitors) và thị phần (market share).

Mong các bạn đón đọc!

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Mobility Services 2020 - Statista Mobility Market Outlook (2020), [Report], Statista.

Spread the love

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *